Dự thảo cũng đã quy định khi cơ quan hải quan tiến hành truy đuổi thì đồng thời thông báo cho cơ quan chức năng (Công an, Quản lý thị trường,…) trên địa bàn biết để kết hợp ngăn chặn, xử lý là đảm bảo thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 91 Dự thảo
Phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu quan điểm của đại biểu Quốc hội cho rằng quy định lực lượng hải quan tiếp kiến truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật đối với trường hợp này là mâu thuẫn với quy định tại khoản 2 Điều 91, theo đó ngoài khuôn khổ địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan có bổn phận kết hợp hoặc chủ động kết hợp với các cơ quan quốc gia sở quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận tải trái phép hàng hóa qua biên cương.
Ví dụ: Luật thương chính Pháp, Luật thương chính Indonesia. Ảnh: Thịnh Hưng Làm rõ khái niệm lãnh thổ thương chính Về quan điểm của đại biểu Quốc hội yêu cầu cân nhắc nội hàm và sự cấp thiết của việc giảng giải khái niệm “cương vực hải quan”, bởi khái niệm cương vực hải quan chỉ được quy định tại Điều 2 (phạm vi điều chỉnh) và giảng giải tại Điều 4; một số điều khác có quy định liên tưởng đến lãnh thổ hải quan nhưng không bao hàm khái niệm “bờ cõi thương chính” (Điều 7, Điều 9).
#, Các lực lượng kì, kiểm soát chuyên ngành khác". Lực lượng Hải đội 1 kì cọ, kiểm soát trên hải phận Đông Bắc của sơn hà.
Các nội dung mà Bộ Tài chính tiếp thu, chính lý quan điểm của UBTVQH bao gồm: Địa bàn hoạt động thương chính (Điều 7), Giám sát thi hành luật pháp (Điều 11), Hệ thống tổ chức thương chính (Điều 14), Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan (Điều 17), việc áp dụng cơ chế một cửa nhà nước (Điều 25, Điều 35), rà soát sau thông quan (Điều 79), vận dụng một số biện pháp nghiệp vụ của lực lượng hải quan để phòng, chống buôn lậu và ăn gian thương nghiệp (Điều 91, 92, 93) Có 6 nội dung mà Bộ Tài chính giải trình, đó là: Khái niệm cương vực hải quan (Điều 4), nhiệm vụ của hải quan (Điều 12), hồ sơ thương chính, (Điều 24) xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá thương chính (Điều 28), bổn phận kết hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cửa khẩu (Điều 35 và Điều 67), khuôn khổ nghĩa vụ phòng, chống buôn lậu, chuyển vận trái phép hàng hóa qua biên thuỳ (Điều 91, 93).
Thu Trang. Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 48 Luật Biển Việt Nam cũng quy định: phạm vi nghĩa vụ cụ thể của các lực lượng phẳng, kiểm soát trên biển thực hiện theo quy định của luật pháp.
Tại những nơi đó Luật hải quan được vận dụng để điều chỉnh những vấn đề có can hệ đến thương chính. Vì vậy, Bộ Tài chính cũng đề nghị được giữ như Dự thảo. Việc đương đầu nhằm ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật hải quan cần phải được thực hiện kịp thời, song song cần sự phối hợp đồng bộ của các lực lượng. Và việc truy đuổi tàu bè nước ngoài được quy định tại Điều 41 của Luật Biển Việt Nam.
Vì thế, để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan hải quan trong thực hiện nhiệm vụ gian buôn lậu, vận chuyển hàng hóa qua biên cương, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hải quan, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này cần giao trách nhiệm chủ trì xử lý cho cơ quan hải quan đối với trường hợp cụ thể này. Khái niệm “lãnh thổ hải quan” quy định tại Khoản 25 Điều 4 Dự thảo Luật hải quan (sửa đổi) là khuôn khổ không gian mà Luật hải quan có hiệu lực áp dụng, theo đó ngoài các khu vực trong lãnh thổ quốc gia còn có những khu vực thuộc quyền tài phán nằm ngoài bờ cõi nhà nước như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Giải thích vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, qua thực tế hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận tải trái phép hàng hóa qua biên thuỳ của cơ quan thương chính cho thấy, hoạt động buôn lậu, chuyển vận trái phép qua biên thuỳ ngày càng được các đối tượng thực hiện bằng nhiều biện pháp, thủ đoạn tinh tướng, phức tạp. Hơn thế nữa, quy định về “bờ cõi thương chính” là quy định mà hồ hết các nước đều lựa chọn để thống nhất về quản lý hải quan của mình.
Khái niệm này được kế thừa quy định của Luật hiện hành. Về việc truy đuổi trên biển (Khoản 2 Điều 93), có quan điểm đại biểu cho rằng quy định tại khoản 4 Điều 91 thẩm quyền kiểm soát của cơ quan hải quan tại vùng tiếp giáp lãnh hải là không khả thi và chồng chéo với các lực lượng khác trên biển như Cảnh sát biển, Biên phòng, Hải quân; quy định tại khoản 2 Điều 93 về việc Hải đội kiểm soát trên biển được dừng, truy đuổi phương tiện vận tải nước ngoài trên vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là chưa hạp với Luật Biển Việt Nam và mâu thuẫn với khoản 4 Điều 91 Dự thảo phân tách vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Biển Việt Nam thì quốc gia thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp hải phận nhằm ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên cương vực hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
Quy định này không làm đổi thay địa bàn hoạt động hải quan quy định trong Dự thảo Luật. Do đó, khoản 4 Điều 91 Dự thảo luật quy định cụ thể bổn phận của cơ quan hải quan trong việc phẳng, kiểm soát trên biển tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp vùng biển là cấp thiết và hợp với các quy định nêu trên, góp phần cùng với các lực lượng khác ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm luật pháp về thương chính xảy ra trên cùng biển, bảo đảm an ninh nhà nước và an ninh kinh tế.
Theo Luật biên thuỳ quốc gia thì biên thuỳ quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài hải phận; Luật Biển Việt Nam quy định lĩnh vực hải quan là một trong những lĩnh vực mà quốc gia thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Song song khoản 1 Điều 47 Luật Biển Việt Nam cũng quy định "lực lượng tày, kiểm soát trên biển bao gồm các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an quần chúng.
Bên cạnh đó, quy định này còn là căn cứ pháp lý để thương lượng các vấn đề có liên can đến thương chính nhất là các khu vực mẫn cảm, chồng lấn với các nước đối tác và làm căn cứ để các cơ quan khác của quốc gia xử lý các vấn đề có liên tưởng đến thương chính tại các khu vực không có địa bàn hoạt động hải quan hoặc các khu vực nằm ngoài cương vực nhà nước.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế của nước ta, nội dung quy định này nhằm khẳng định quyền chủ quyền của quốc gia ta về thương chính tại những khu vực như trên là cấp thiết. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng, khái niệm này cũng chưa kê đầy đủ các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam.
Khoản 2 Điều 93 Dự thảo Luật chỉ quy định về thẩm quyền truy đuổi, dừng dụng cụ tải; còn phạm vi hoạt động trên biển của cơ quan hải quan thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Dự thảo nên các quy định này không mâu thuẫn.
Do đó, xin được giữ như Dự thảo. Hơn nữa, trong Luật cũng đã có khái niệm địa bàn hoạt động hải quan (Điều 7) với các quy định khá rõ phạm vi hoạt động, quyền hạn, nghĩa vụ của lực lượng hải quan Giải trình vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định của Luật Biển Việt Nam thì vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, hải phận, vùng tiếp giáp vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Do đó, Bộ Tài chính yêu cầu được giữ như Dự thảo.