Duyên do Hiện chỉ xác định được duyên do cho khoảng 50% trường hợp, 50% trường hợp còn lại chưa thể xác định. ThS-BS Lê Văn Hiền, Phó Giám đốc y học, Bệnh viện phụ sản Mê Kông, cho biết: nguyên do đầu tiên là do di truyền (thất thường nhiễm sắc thể, gen). Tức là vợ và chồng có chứa những gen dị hợp tử, khi phối hợp thành những gen đồng hợp tử gây bất thường nặng cho thai nhi và gây sẩy thai. Bất đồng nhóm máu mẹ và con cũng là nguyên cớ thường gặp. Khi người mẹ và thai nhi cùng mang nhóm máu hiếm (nhưng đối kháng), ngay ở lần sinh (hoặc sẩy thai hay nạo phá thai lần đầu) trong cơ thể mẹ sẽ xuất hiện kháng thể kháng Rh, gây sẩy thai cho những lần sau. Những nữ giới từng phá thai nhiều lần hoặc nạo phá thai có tai biến khiến niêm mạc tử cung bị tổn thương, mỏng đi dẫn đến khó thụ thai hoặc nếu thụ thai thì cũng dễ bị sẩy thai vì thành nội mạc không đủ dày để thai nhi bám vào. Lao nội mạc tử cung hoặc nhiễm trùng niêm mạc tử cung do sán sẽ làm cho lớp niêm mạc tử cung trở thành “cằn cỗi”, không đủ tốt tươi, phì nhiêu cho thai nhi phát triển tốt gây nên tình trạng sẩy thai. Một số phụ nữ mắc phải bệnh tự miễn như hội chứng kháng phospholipids, khi mang thai, thân thể sẽ tiết ra kháng thể đào thải thai nhi. Nếu mẹ bị thiếu acid folic không chỉ gây sẩy thai liên tục mà còn khiến thai nhi bị dị tật (đặc biệt là dị tật ống tâm thần). Khi người mẹ bị các bệnh lý kinh niên như bệnh tim, cao áp huyết, bệnh phổi, nhiễm trùng mạn tính; mẹ bị suy hoàng thể (hoàng thể không tiết đủ nội tiết tố progesterone) cũng dễ bị sẩy thai liên tục Ngoại giả, bất thường của tử cung cũng là căn do thường gặp gây sẩy thai liên tục. Cụ thể như hở eo tử cung, tử cung có vách ngăn, nhân xơ tử cung, polype lòng tử cung, dính buồng tử cung. Ảnh: P.Huy Can thiệp ra sao? ThS-BS Lê Văn Hiền cho biết, nếu phát hiện Bất đồng nhóm máu mẹ con, người mẹ cần được chích anti D để tránh sẩy thai những lần sau. Để tránh sẩy thai và dị tật thai nhi, thai phụ cần bù acid folic một tháng trước khi mang thai chứ không nên đợi đến khi mang thai mới bổ sung. Nếu mang bệnh tự miễn, suốt quá trình mang thai, người mẹ cần phải dùng thuốc ức chế miễn nhiễm. Mẹ mắc phải các bệnh lý mãn tính thì nên điều trị triệt để trước khi quyết định mang thai. Trường hợp bị tổn thương niêm mạc tử cung, nếu nhẹ thì có thể điều trị bằng nội tiết tố sinh dục nữ để niêm mạchttp://www.Idee.Vntử cung bình phục hoặc đặt vòng tách dính, nội soi tách dính. Lao nội mạc tử cung hoặc nhiễm trùng niêm mạc tử cung do sán là những thương tổn thường không bình phục nên khó có thể mang thai. Theo TS-BS Lê Thị Thu Hà, những thất thường trong cấu trúc giải phẫu của tử cung thường nhật được can thiệp bằng ngoại khoa. Nếu bị hở eo tử cung, thầy thuốc sẽ can thiệp để ngăn chặn tình trạng tiếp sẩy thai bằng cách may, cột eo. Nếu bị polype lòng tử cung thì sẽ được chỉ định cắt polype bằng nội soi; nếu bị nhân xơ tử cung thì sẽ giải phẫu để bóc nhân xơ; rưa rứa, vách ngăn tử cung cũng được khắc phục bằng cách cắt vách ngăn. Tuy nhiên, ThS-BS Lê Văn Hiền cho biết, tỷ lệ các ca sẩy thai không tìm được căn do đang có xu hướng tăng lên. Nhiều bác sĩ chuyên khoa nghi ngờ rằng, nguyên do có thể là do môi trường ngày càng bị ô nhiễm, đặc biệt là hóa chất độc hại trong thực phẩm. Trong thời kì ba tháng đầu làm tổ, thai nhi rất dễ bị thương tổn nếu bị tác động của yếu tố hóa chất độc hại. Cần lưu ý, sau khi sẩy thai, chị em không nên có thai ngay mà cần chờ khoảng hai-ba tháng, khi sức khỏe đã ổn định, niêm mạc tử cung hồi phục. Cũng không nên để lâu quá vì có khả năng sẽ phát sinh những nguy cơ khác. Nên có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh. Tránh các nguyên tố tác động từ môi trường như hóa chất độc hại, khí gây mê, nhân ngôn, thuốc nhuộm, thuốc diệt côn trùng, thủy ngân, chì…; tránh bị bao tay quá mức, bỏ những thói quen xấu như hút thuốc, uống rượu, dùng các chất gây nghiện. An Hà |