Nguy cơ mất an toàn trên nhiều loại thực phẩm Trong cuộc họp sơ kết công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp (VTNN) và an toàn thực phẩm (ATTP) nông, lâm, thủy sản bảy tháng đầu năm, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản Nguyễn Như Tiệp cho rằng, "nóng" nhất trong thời kì qua là chất lượng, an toàn vệ sinh đối với các sản phẩm như thịt gia súc, gia cầm, trong đó, không chỉ có chất cấm mà việc ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm cũng đang là vấn đề đáng lo ngại. Qua việc thực hiện chương trình giám sát ô nhiễm vi sinh vật, thuốc thú y và hóa chất trong thịt gia súc, gia cầm, kết quả đợt 1 đã phát hiện 3 trong số 39 mẫu thịt gà nhiễm vi sinh vật gây bệnh Campylobacter spp (chiếm 7,7%); 2 trong số 40 mẫu nhiễm kháng sinh cấm Chloramphenicol, 4 trong số 40 mẫu nhiễm Furazolidon (chiếm 10%) và 4 trong số 40 mẫu phát hiện Tetracycline vượt giới hạn dư lượng tối đa cho phép (chiếm 10%). Còn thẩm tra trên các mẫu thủy sản: 11 trong số 1.528 mẫu (chiếm 0,7%) nhiễm hóa chất, kháng sinh vượt giới hạn tối đa cho phép. Các mẫu nhiễm nêu trên thuộc vùng nuôi của các tỉnh miền trung và miền nam như Khánh Hòa, Đác Lắc, Tiền Giang, Long An, Đồng Nai, Bến Tre và Trà Vinh. Kết quả đánh giá, phân loại các nguy cơ về an toàn thực phẩm đối với 26 loại rau, quả tươi sinh sản trong nước (của Cục Bảo vệ thực vật) cũng cho thấy, nhóm rau ăn lá có nguy cơ cao hơn rau ăn quả và trong các loại quả đã được giám sát thì nho quả tươi là loại có nguy cơ cao về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sau đó là dưa lê, chuối và thấp nhất là xoài, cam. Duyên cớ dẫn đến tình trạng nêu trên là do một số sở, ngành, chính quyền địa phương còn buông lỏng quản lý, giám sát; các văn bản quy phạm luật pháp hướng dẫn ban hành chưa kịp thời so điều kiện thực tiễn. Bất cập trong quản lý Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng VTNN và ATTP nông, lâm, thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách, từng bước ăn nhập tình hình thực tiễn. Song, cũng theo Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản Nguyễn Như Tiệp thì hiện vẫn còn nhiều bất cập trong quản lý lĩnh vực này. Cụ thể, các mẫu biểu rà vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu thực tiễn cần kiểm soát. Bên cạnh đó, việc công khai các cơ sở loại C và tái rà soát lại các cơ sở này chưa được khai triển nhiều, mà chỉ tụ tập ở một số loại hình cơ sở giết thịt gia súc, gia cầm, kinh doanh thuốc thú y, thủy sản. Công tác thanh, rà chuyên ngành vẫn chưa bài bản do thiếu nguồn lực; việc xử phạt hành chính chưa triệt để, bởi chưa kết hợp đồng thời các hình phạt bổ sung. Đặc biệt, bộ máy tổ chức và cán bộ làm thuê tác VSATTP tại các địa phương vừa thiếu, vừa yếu đồng bộ... Đó chính là những lý do khiến công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm chưa có nhiều chuyển biến hăng hái. Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa Lê Như Tuấn, việc quản lý chất lượng các loại vật tư nông nghiệp đưa từ bên ngoài tỉnh vào còn gặp nhiều khó khăn do không kiểm soát được "tận gốc" các cơ sở sinh sản mà đẵn vẫn là phát hiện những vi phạm ở các đại lý và nhà phân phối. Do đó, rất cần Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có văn bản hướng dẫn kết hợp giữa các địa phương để xử lý tình trạng này. Ông Lê Như Tuấn cũng nêu lên cái khó trong công tác kiểm nghiệm chất lượng do chưa có đủ dụng cụ, trang thiết bị cần thiết. Hiện cả nước có 41 trong số 43 tỉnh, thành được các cấp có thẩm quyền phê chuẩn đề án quy hoạch thịt gia súc, gia cầm, tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn trong tình trạng "quy hoạch treo"... Do đó, kéo theo tỷ lệ các cơ sở giết gia súc, gia cầm chưa đảm bảo chất lượng (loại C) còn cao (44,7%), thẩm tra định kỳ xếp loại C (59,2%) và khi tái rà 180 cơ sở, có 52 cơ sở lên loại B, còn 128 cơ sở vẫn bị xếp loại C (71,1%). Cần giải pháp căn cơ, có hệ thống Chính trực nhìn về thực trạng nêu trên, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đánh giá, vấn đề trách nhiệm quản lý là rất lớn bởi vẫn còn gây nhiều bức xúc cho bà con dân cày về tình trạng phân bón, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thậm chí cả hàng giả vẫn đang lưu hành, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất và người tiêu dùng vẫn hoang mang về thực phẩm mất an toàn. Nên, việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là đề nghị cấp thiết, đòi hỏi phải thực hiện đạt hiệu quả cao hơn, hướng tới đích giảm thiểu vi phạm về chất lượng vật tư cũng như vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm. Cách làm phải hướng tới căn cơ, có hệ thống, xử lý tận gốc chứ không chạy theo tình huống. Theo đó, tại cuộc họp trực tuyến với các địa phương ngày 2-8 vừa qua, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nhấn mạnh, vấn đề chính, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý là triển khai nghiêm chỉnh Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT (Quy định việc soát, đánh giá cơ sở sinh sản, kinh dinh VTNN và sản phẩm nông, lâm, thủy sản), xác định trọng tâm để soát giám sát, yêu cầu khắc phục. Nếu các cơ sở vẫn tiếp chuyện vi phạm phải có những biện pháp xử lý thẳng cánh, triệt để, song song phải công bố một cách rộng rãi trên các dụng cụ thông báo đại chúng để mọi người cùng biết. Bên cạnh đó, ngoài việc tiếp tục xây dựng các văn bản hướng dẫn, thì việc khai triển các mô hình kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi sản xuất, kinh dinh nông, lâm, thủy sản hay xây dựng chuỗi kết liên giữa sản xuất từ khâu sơ chế đến chế biến, phân phối cũng cần đưa vào thực hành; đồng thời, tiến hành xây dựng hệ thống truy xuất cỗi nguồn nông, lâm, thủy sản an toàn. Mặc dầu xác định công tác quản lý chất lượng VTNN và ATTP nông, lâm, thủy sản là nhiệm vụ trọng tâm mà người đứng đầu ngành nông nghiệp khẳng định, song trước tính chất phức tạp của tình trạng vi phạm ATVSTP, hiệu quả quản lý sẽ được nâng lên giả dụ có sự phối hợp chặt chịa của địa phương, sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền trong "cuộc chiến" với các vi phạm về ATTP. Rất cần sự nhận thức đúng đắn của cấp ủy các cấp, cùng việc đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người sinh sản và tiêu dùng trong sử dụng vật tư nông nghiệp và thực phẩm an toàn. Hải Phương |